Ngôn ngữ hai miền Nam Bắc

 

Grinsekatze

…Ngôn ngữ Nam Bắc..

Năm 1978..Sài gòn   ăn độn..

Đi dự lễ mít tinh thầy cô và lũ chúng em đem  theo một mớ   khoai mì luộc,củ sắn (giải khát ),

đậu phọng nấu ( naschen )…

Lúc ăn uống cô bạn người bắc ngồi kế bên bảo 

      „ Bạn đưa dùm mình củ sắn „ .

..  em đưa củ sắn ( lọai củ màu  trắng,ăn rất giòn..)..

 Cô bạn lắc đầu.

 .Không ,mình định ăn củ sắn cơ !  ( chỉ củ khoai mì luộc)

 Em đưa củ khoai mì cho bạn và chỉ củ sắn ,hỏi ..

Thế củ này bồ gọi là gì ?

Cô bạn : Củ Đậu..

           Em chỉ đống Đậu phọng..

           và hỏi :  Còn món này ?

           Cô bạn: Lạc.. 

Em nói : Thế bồ muốn chê đậu phọng lạt quá thì nói sao ?

Cô bạn ngúyt dài và cả hai cùng cười..

       Có mẩu chuyện cười..

Anh chồng Bắc lấy cô vợ Nam

Tuần đầu chung sống anh bảo vợ:

Hôm nay đi chợ..nhớ mua đậu về kho ăn mình nhé !

Cô vợ đi mua một mớ đậu phọng nấu về kho với nước dừa..kiểu miền Nam..

Lên bàn ăn,anh  chồng :

Ơ hay..tôi bảo mình kho đậu mà mình lại đi kho lạc !

Cô vợ : 

Đậu phọng kho mặn dzầy ..mà anh còn chê lạt !

Bắc Nam đề huề

Bắc than gầy thì Nam bảo ốm
Bắc cáo ốm, Nam khai Bịnh hay Ðau
Bắc Cuốc nhanh, Nam bảo đi mau mau
Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ
Nam Mần sơ sơ Bắc Nàm nấy nê.
Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra
Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da
Bắc Bước vào kia, Nam Ði vô trỏng
Nam kêu Vạc Tre, Bắc gọi là Cái Chõng
Nam Trả treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi
Nam biểu Vui ghê, Bắc nói Buồn cười
Bắc chi Thế thôi, Nam là Vậy đó
Nam làm Giỏ tre, Bắc đan cái Ro.
Nam Muỗng cà phê, Bắc cãi cái Thìa
Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi dìa
Nam Ði tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi
Nam Nói dai, Bắc cho là Lải nhải
Nam nói Xe Hơi, Bắc gọi Ô tô
Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô
Nam Ði trốn, Bắc cho là Lánh mặt
Nam bảo là Mắc, Bắc cho là đắt
Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh
Nam nói Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại
Nam thấy Ngu ghê, Bắc cho là Quá Dại
Nam Sơ. Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi
Nam hỏi Nói Gì ? Bắc hỏi Bảo Chi
Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải
Bắc gọi Thích ghê, Nam kêu là Khoái
Bắp Nam kêu là Hái, Bắc bảo Vặt Ngô
Bắc thích thì Vồ, Nam ưng là Chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi ! Bắc réo: cút xéo
Bắc bảo: cứ véo ! Nam bảo: ngắt đi
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che,  Bắc thì lại chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay.
Bắc nấu thịt cầy, Nam nấu thịt chó
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, Anh Hai Nam lú
Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
Bắc mới tập bơi, Nam thời tập lội
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp
Bắc bảo là To, Nam cho là Lớn
Ðùa mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là Xạo
Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê
Bắc bảo sướng phê, Nam rên đã quá !
Bắc hay đi phá Bắc đả bằng gươm
Nam chọc bị lườm, kiếm Nam, Nam thọt
Bắc ngồi bia bọt, Nam nhậu lade
Bắc gọi lạc rang, Nam kêu đậu phụng
Nam tròm trèm ăn vụng,
Bắc len lén ăn vèn
Nam „hổng chịu đèn“, Bắc thì „em chả“
Bắc cho là „cái ả“, Nam bặm trợn „con kia“
Nam  „tên cà chua“, Bắc rủa „đồ phải gió“
Nam nhậu  thịt chó, Bắc chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ,
Nam thẳng thừng lá thúi địt !

Manfred_Halbweis_Misstrauen

 

 Những kẻ lạ mặt trong “tiếng nước tôi”                      

Lê Hữu

(01/09/2009)

  Ai phụ trách khâu ẩm thực?

 Câu ấy nghe được trong cuộc họp của các thầy cô giáo ở một trường dạy tiếng Việt cho trẻ em, bàn về việc tổ chức buổi picnic cho thầy cô và phụ huynh học sinh….Xin mạn phép có một hai ý như thế này:

Thứ nhất, câu ấy có sáu chữ thì hết bốn chữ là tiếng Hán-Việt (“phụ trách”, “ ẩm thực”). Thứ hai, ba chữ cuối ở trong câu (“khâu”, “ẩm thực”) là những chữ “mới”, du nhập “từ Bắc vô Nam” sau năm 1975.

Giá dụ học sinh nghe được câu ấy bèn giơ tay hỏi cô giáo ở trong lớp:

      – “Ẩm thực” là gì thưa Cô?

      – “Ẩm” là uống, “thực” là ăn. “Ẩm thực” là tiếng Hán-Việt, có nghĩa là “ăn uống”.

      – Tiếng Hán-Việt là tiếng gì vậy Cô?

      – Là tiếng Hán, tức là tiếng Trung quốc, đọc theo âm Việt.

      – Vậy sao mình không nói “ăn uống”, là tiếng của mình, mà lại nói “ẩm thực” thưa Cô?

Cô giáo chắc cũng hơi bối rối, và cũng hơi khó trả lời, không lẽ lại nói là “Cô cũng không rõ, nhưng nhiều người đều… nói vậy”. Em học sinh ấy nói đúng. Tại sao người Việt ở trong nước, và cả ở ngoài nước, vẫn thích nói “ẩm thực” mà không chịu nói “ăn uống”? Có phải vì nói “ăn uống” nghe phàm tục, nói “ẩm thực” nghe thanh tao và “trí tuệ” (1) hơn chăng? Trước năm 1975, người Việt ở miền Nam Việt Nam không nói “Ai phụ trách khâu ẩm thực?” mà có nhiều cách nói đơn giản hơn và dễ hiểu hơn, chẳng hạn: “Ai lo vụ ăn uống?”, hoặc “Chuyện ăn uống ai lo?”, hoặc “Thức ăn, thức uống ai lo?”…

Nếu cứ phải vay mượn tiếng Hán-Việt hoặc tiếng nước ngoài trong sinh hoạt hàng ngày, trong lúc kho tàng tiếng Việt của chúng ta không hề thiếu thốn những chữ ấy thì thật khó mà thuyết phục các em tin được rằng “tiếng Việt giàu và đẹp” như chúng ta vẫn tự hào. (Đã gọi là “giàu” thì tại sao lại phải đi vay, đi mượn?!?). Những tiếng Hán-Việt nặng nề và tối tăm ấy hoàn toàn không giúp gì được cho việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà những người làm công tác giáo dục ở trong nước vẫn hô hào, như là một khẩu hiệu trong số rất nhiều khẩu hiệu thuộc loại “nói mà không làm”, hoặc “nói một đàng làm một nẻo”, hoặc… “nói vậy mà không phải vậy”.

Những chữ nghĩa kiểu ấy khá phổ biến đến mức xâm nhập cả vào các trường dạy tiếng Việt, là nơi dạy học trò nói đúng, viết đúng trong tinh thần “bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc”. Bên dưới là một ít ví dụ, và các đề nghị nói thế nào cho đúng, rõ nghĩa, dễ hiểu và “Việt ngữ” hơn (chỉ là câu mẫu, người đọc có thể cho những câu khác tốt hơn):

      – Thay vì nói: “Cô giáo Mỹ Linh đứng lớp Năm”, nên nói: “Cô giáo Mỹ Linh dạy lớp Năm” (không có… đứng, ngồi, nằm, quỳ chi cả).

      – Thay vì nói: “Giáo viên cần soạn giáo án trước khi lên lớp”, nên nói: “Thầy cô cần soạn bài giảng trước giờ dạy” (không có… lên, xuống, ra, vào chi cả).

      – Thay vì nói: “Phụ huynh đăng ký cho con em học Việt ngữ”, nên nói: “Phụ huynhghi tên (hay ghi danh) cho con em học tiếng Việt”.

      – Thay vì nói: “Các em tiếp thu tương đối chậm”, nên nói: “Các em hiểu chậm”.

      – Thay vì nói: “Học sinh đi tham quan một xí nghiệp”, nên nói: “Học sinh đi thăm mộtnhà máy”.

      – Thay vì nói: “Ban văn nghệ sẽ tham gia biểu diễn (2) một tiết mục”, nên nói: “Ban văn nghệ sẽ đóng góp một màn diễn”.

      – Thay vì nói: “Ban giảng huấn sẽ dự giờ đột xuất các lớp học của giáo viên”, nên nói: “Ban giảng huấn sẽ vào lớp xem thầy cô giảng dạy mà không báo trước”.

      – Thay vì nói: “Lớp Vỡ Lòng chủ yếu tập trung vào khâu đánh vần”, nên nói: “Lớp Vỡ Lòng cần dạy các em biết đánh vần”.

      – Thay vì nói: “Cô giáo phát hiện em Nga có năng khiếu về môn Văn”, nên nói: “Cô giáo nhận thấy em Nga có khiếu về môn Văn”.

      – Thay vì nói: “Các em về nhà tranh thủ ôn tập”, nên nói: “Các em về nhà cố gắng ôn bài”.

      – Thay vì nói: “Tuyệt đại đa số các em tiếp thu tốt”, nên nói: “Hầu hết các em hiểu bài”.

      – Thay vì nói: “Cần nâng cao chất lượng (3) trong công tác giảng dạy”, nên nói: “Cần dạy sao để các em mau tiến”.

 Trên đây chỉ là một ít trong số khá nhiều câu cú, chữ nghĩa nghe “lạ tai”, từ miền Bắc “xâm nhập” vào miền Nam Việt Nam , và “bành trướng” ra tới hải ngoại. Nếu là những tiếng hay ho, ý nghĩa, làm giàu thêm kho tàng tiếng Việt thì ta cũng phấn khởi hồ hởi (1) mà tiếp thu (1), đằng này chỉ thấy chói tai và mệt óc vì phải vừa nghe vừa cố đoán xem người nói muốn nói cái gì(?).

      “Tiếng Việt còn, nước Việt còn” hoặc “Tiếng Việt còn, người Việt còn”, ở đâu ta cũng nghe những câu ấy, nhưng chắc không phải là thứ “tiếng Việt” kỳ quái hoặc nửa Hán nửa Việt, nửa Tàu nửa ta, chẳng thấy “giàu” cũng chẳng thấy “đẹp”, chẳng thấy “trong” cũng chẳng thấy “sáng” (chỉ thấy… tối mò mò), và chắc cũng không phải là “Tiếng Việt mến yêu” mà chúng ta muốn “bảo tồn và phát huy” cho thế hệ hôm nay và ngày mai. Nếu bắt con em chúng ta cứ phải nghe mãi những “đứng lớp, ngồi lớp”, “giáo án giáo trình”, “đăng ký đăng cai”, “tiếp thu tiếp quản”,đột xuất đột kích”, “chủ yếu chủ trì”… thì kể cũng tội nghiệp và oan uổng cho chúng, vì chúng nào có phải… “khăn quàng đỏ” khăn quàng đen chi chi đâu. Thử tưởng tượng, bước chân vào văn phòng một trường Việt ngữ, được hỏi

“Bác có đăng ký cho em tham gia đội văn nghệ?”, hoặc “Sau giải phóng chú có công tác ở phòng giáo dục à?”, chắc phụ huynh phải lẳng lặng… dắt con đi nơi khác.

      Nói cho ngay, tiếng Việt chắc chắn là phải còn, chứ mất đi đâu được.

Chỉ có điều, đến một lúc nào đó, “tuyệt đại đa số” (1) (hay “tuyệt đại bộ phận” (1) tiếng Việt đều có “chất lượng tối ưu” (1) như thế cả thì cái “còn” ấy kể cũng… ngậm ngùi.

      Đã chịu đời không thấu những “tiếng Việt mới” ấy, đã phải liều mạng bỏ nước ra đi thì tiếc rẻ gì nữa mà còn tha cái của nợ ấy sang đây!

      “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời…”, cứ mỗi lần nghe câu hát ấy là mỗi lần tôi lại phân vân tự hỏi “liệu ‘những kẻ lạ mặt trong ngôn ngữ’ ấy có phải là ‘tiếng nước tôi’ (và liệu những đứa cháu của tôi có phải ‘yêu’ chúng ‘từ khi mới ra đời’)?”  Nếu không, chúng phải có một cái tên gì chứ? Tự điển tiếng Việt gần đây vừa có thêm một từ ngữ mới: “tàu lạ”, được định nghĩa là “tàu Trung quốc”. Để cho dễ gọi, tôi cũng muốn đặt tên cho những “kẻ lạ mặt” ấy là “từ lạ”. Tương tự các biện pháp nhằm đối phó với các tàu lạ, ta cũng cần đề cao cảnh giác để “phát hiện (1) kịp thời những từ lạ lẩn lút, trà trộn, xâm nhập vào phần đất “Tiếng Việt mến yêu” của chúng ta. Như những loại cỏ xấu, cỏ dại rất khó diệt trong vườn nhà, chỉ khi nào tống khứ được những “từ lạ” thổ tả này đi chỗ khác chơi, chỉ khi nào không còn những volunteers tiếp tục truyền bá chúng, chỉ khi nào quét sạch chúng ra khỏi những trường dạy tiếng Việt để chúng không có cơ hội bén rễ nẩy mầm trong trí óc non nớt, trong trắng của các em nhỏ và làm ô nhiễm môi trường giáo dục, chúng ta mới mong trả lại sự trong sáng cho “tiếng nước tôi”.

Tàu lạ, hay từ lạ, hay những kẻ lạ mặt, đều là những đối tượng cần truy quét.

 Lê Hữu 

 (1) Từ ngữ phổ biến ở trong nước.

(2) Biểu diễn: màn trình diễn của diễn viên có tay nghề, ví dụ “biểu diễn khiêu vũ trên băng”.

 (3) Ý muốn nói “Cần nâng cao ‘phẩm’ (quality)…”, nhưng nói sai thành… ‘lượng’ (quantity).

  

 

Advertisements