Nấm dùng làm thuốc

Các Loại Nấm Dùng Làm Thuốc

Tài liệu từ bài viết của Phan Quốc Kinh ,có bổ sung thêm hình ảnh & bài viết trích từ các trang Web trong mạng Net .

Từ xa xưa, người Phương Đông đã biết dùng nhiều loại nấm để làm thuốc bổ, tăng cường thể lực, phòng chống bệnh tật như: Đông trùng hạ thảo, phục linh, vân chi, linh chi, nấm hương Nhật, nấm mùa. Người Châu Âu lại sử dụng nhiều các chế phẩm từ cựa lõa mạch để làm thuốc cầm máu tử cung và trị bệnh đau nửa đầu.

Đông trùng hạ thảo

Tên gọi của loại nấm này có ý nghĩa: Mùa đông là côn trùng, mùa hè là cây cỏ (thực ra là nấm) chỉ có ở vùng Tây Nam Trung Hoa. Ở Mỹ, Đông trùng hạ thảo được sử dụng làm thuốc tăng lực, chóng hồi phục sức khỏe cho các vận huy động thể dục thể thao. Thu hoạch vào mùa hè. Đây là loại nấm cordiceps sinensix. Nấm này ký sinh trên một loại sâu non thuộc họ cánh bướm. Nấm phát triển trên sâu và làm cho sâu chết, vào mùa hè, nấm sinh cơ chất mọc chồi lên mặt đất, nhưng gốc vẫn dính liền vào đầu sâu. Người ta đ ào lấy cả phần nấm và sâu chết, phơi khô để sử dụng. Đông trùng hạ thảo có tác dụng bổ, chữa thần kinh suy nhược, liệt dương, bổ tinh, ích khí. Thường dùng phối hợp với một số vị thuốc khác. Có tác giả nêu có đông trùng hạ thảo ở Việt Nam và nói là có tác dụng bổ cường dương. Theo ý tác giả bài báo này thì đó là sâu chít, không liên quan gì đến đông trùng hạ thảo. Tại Điện Biên, các cửa hàng ăn ở đó bán rất nhiều chai rượu ngâm sâu chít. Thực ra là nhộng của sâu Brihaspa atrostigmella. Sâu này đẻ trứng ở vỏ cây chít (hoa dùng làm chổi quét vôi) nhộng nở từ trứng, chui vào và phát triển trong thân cây. Vào mùa đông người ta chặt phần đầu thân cây chít, chẻ đôi thì được nhộng chít trông giống như tằm trắng còn non.

„Đông trùng hạ thảo“ vào mùa hè

Bài của Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đông trùng hạ thảo là một loại đông dược quý có bản chất là dạng ký sinh của loài nấm Cordyceps sinensic thuộc nhóm Ascomycetes trên cơ thể ấu trùng của một vài loài bướm trong chi Thitarodes Viette, 1968 (trước đây phân loại trong chi Hepialus Fabricius, 1775). Phần dược tính của thuốc đã được chứng minh là do các chất chiết xuất từ nấm Cordyceps sinensic. Tên gọi „đông trùng hạ thảo“ là xuất phát từ quan sát thực tế khi thấy vào mùa hè nấm Cordyceps sinensic mọc chồi từ đầu con sâu nhô lên khỏi mặt đất. Vào mùa đông thì nhìn cặp cá thể này giống con sâu (côn trùng), còn đến mùa hè thì chúng trông giống một loài thực vật (thảo mộc) hơn. Nguồn gốc Vị thuốc này thực chất là hiện tượng ấu trùng các loài bướm thuộc chi Thitarodes bị nấm thuộc chi Cordyceps kí sinh. Đó là một dạng cộng sinh giữa một loài nấm túi có tên khoa học là Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc., 1878 với sâu non (ấu trùng) của một loài côn trùng thuộc chi Thitarodes. Thường gặp nhất là sâu non của loài Thitarodes baimaensis hoặc Thitarodes armoricanus. Ngoài ra còn 46 loài khác thuộc chi Thitarodes cũng có thể bị Cordyceps sinensis ký sinh. Các loài nấm này phân bố rộng ở châu Á và châu Úc với trung tâm đa dạng là vùng Đông Á, đó là các cao nguyên cao hơn mặt biển từ 4.000 đến 5.000 m như: Tây Tạng, Tứ Xuyên, Thanh Hải, Cam Túc, Vân Nam…

Cơ chế xâm nhiễm của loài nấm này vào cơ thể sâu hiện giờ vẫn chưa rõ. Vào mùa đông nấm bắt đầu ký sinh vào sâu non và làm chết sâu non vì ăn hết chất dinh dưỡng của chúng. Những con sâu này có thể đã ăn phải bào tử nấm hoặc chúng mắc bệnh nấm ký sinh từ các lỗ thở. Đến khi sợi nấm phát triển mạnh, chúng xâm nhiễm vào các mô vật chủ, sử dụng hoàn toàn các chất dinh dưỡng trong cơ thể sâu. Đến một giai đoạn nhất định thường là vào mùa hè ấm áp, nấm bắt đầu mọc ra khỏi sâu như một ngọn cỏ và vươn lên khỏi mặt đất phát triển thành dạng cây (hình dạng giống thực vật) và phát tán bào tử. Đông trùng hạ thảo chủ yếu tìm thấy vào mùa hè vùng núi cao trên 4.000m ở cao nguyên Thanh Tạng (Thanh Hải-Tây Tạng) và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài nấm thuộc chi Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các cơ chất có dược tính.

Chi nấm Cordyceps có tới 400 loài khác nhau, chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy khoảng 60 loài. Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất được về 2 loài Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc. và Cordyceps militaris (L. ex Fr.) Link.. Loài thứ hai được gọi là Nhộng trùng thảo.

Đông trùng hạ thảo khi còn sống, người ta có thể trông rõ hình con sâu, với đuôi là một cành nhỏ, mọc lá. Khi sấy khô, nó có mùi tanh như cá, đốt lên có mùi thơm. Phần „lá“ hình dạng giống ngón tay, dài khoảng 4 – 11cm do sợi nấm mọc dính liền vào đầu sâu non mà thành. Đầu sâu non giống như con tằm, dài chừng 3-5 cm, đường kính khoảng 0,3 – 0,8 cm. Bên ngoài có màu vàng sẫm hoặc nâu vàng với khoảng 20-30 vằn khía, vằn khía ở gần đầu nhỏ hơn.

Phần đầu có màu nâu đỏ, đuôi giống như đuôi con tằm, có tất cả 8 cặp chân, nhưng 4 đôi ở giữa là rõ nhất. Chất đệm nấm hình que cong mọc ra từ mình sâu non, dài hơn sâu non một chút. Sâu non dễ bẻ gãy, ruột bên trong căng đầy, màu trắng hơi vàng; chất đệm nấm khá dai và bên trong ruột hơi rỗng, có màu trắng ngà. Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối của đông trùng hạ thảo có 17 axít amin khác nhau, có D-mannitol, có lipit, có nhiều nguyên tố vi lượng (Al, Si, K, Na v.v..).

Quan trọng hơn là trong sinh khối đông trùng hạ thảo có nhiều chất hoạt động sinh học mà các nhà khoa học đang phát hiện dần dần ra nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên. Nhiều hoạt chất này có giá trị dược liệu cao. Trong đó phải kể đến axít cordiceptic, cordycepin, adenosin, hydroxyethyl-adenosin. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA ( Hydroxy-Etyl-Adenosin- Analogs). Đông trùng hạ thảo còn có chứa nhiều loại vitamin (trong 100 g đông trùng hạ thảo có 0,12 g vitamin B12; 29,19 mg vitamin A; 116,03 mg vitamin C, ngoài ra còn có vitamin B2 (riboflavin), vitamin E, vitamin K…)

Những thông tin y khoa của Wikipedia Tiếng Việt chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến chuyên môn. Trước khi sử dụng những thông tin này, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ chuyên môn.

Theo các ghi chép về đông dược cổ, đông trùng hạ thảo là một vị thuốc bồi bổ hết sức quý giá, có tác dụng tích cực với các bệnh như rối loạn tình dục, thận hư, liệt dương, di tinh, đau lưng mỏi gối, ho hen do phế hư hoặc cả phế, thận đều hư, và có tác dụng tốt đối với trẻ em chậm lớn.

Một số nghiên cứu hiện đại chỉ ra rằng đông trùng hạ thảo có tác dụng tăng cường công năng của tuyến thượng thận, cải thiện chức năng thận, nâng cao năng lực miễn dịch, kháng khuẩn, kháng virus, chống ung thư và phóng xạ.

Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định đông trùng hạ thảo hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật. Liều uống ĐTHT an toàn đối với chuột thí nghiệm là trên 45g/1kg thể trọng.

Tuỳ theo từng bài thuốc mà đông trùng hạ thảo tham gia, người ta có các chế biến nó khác nhau.

Phổ biển nhất là hầm lên hoặc ngâm rượu. Cần phải phân biệt loại đông trùng hạ thảo dùng trong đông y và các chất có dược tính được tinh chế từ các chi nấm Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp. ·

Lê Quý Đôn từng viết trong sách (?) rằng: „trên núi Tản, có mọc nhiều loại thuốc quý, trong đó có Đông trùng hạ thảo…“.

Tuy nhiên, những người làm về đông y tại Việt Nam cho rằng muốn mua được đông trùng hạ thảo thật thì phải sang Trung Quốc vì đông trùng hạ thảo hiện nay được coi là quý hiếm hơn cả nhân sâm, lộc hươu, giá của nó vì thế rất đắt và có thể bị làm giả. · Tại một của hàng Đông dược có uy tín ở Côn Minh, Trung Quốc, giá cho 5 g đông trùng hạ thảo lên tới gần 500 nhân dân tệ (khoảng 1 triệu đồng Việt Nam, năm 2005).

Phục linh

Phục linh thiên

Ký sinh trên rễ cây thông. Nấm hình khối to có thể nặng đến vài kilôgam. Hiện tại, nước ta vẫn phải nhập phục linh từ Trung Hoa.

Ở nước ta đã khám phá được phục linh ở một số rừng thông ở Đà Lạt.

Phục linh được dùng làm thuốc bổ, còn có tác dụng trị mất ngủ, trị chứng di tinh và chữa phù. Dùng dưới dạng thuốc bột hay thuốc sắc.

Thường dùng phối hợp với nhiều vị thuốc khác.

http://www.24h.com.vn/tin-tuc-trong-ngay/huyen-thoai-loai-nam-dat-bang-vang-c46a355554.html

Linh chi

nấm Linh chi

Còn gọi là nấm trường thọ, là một trong những vị thuốc quý của y học cổ truyền Phương Đông.

Có thể thu hái linh chi mọc hoang dại, nhưng hiện nay người ta đã trồng được với quy mô lớn.

Hoạt chất chính của linh chi là các glycan và heteroglycan và các acid ganoderic.

Theo GS. P.Delavean (Pháp) thì linh chi có tác dụng làm giảm đường trong máu, có tác dụng chống ung thư, tăng cường miễn dịch, chống viêm.

Theo y học cổ truyền thì linh chi có tác dụng bổ, tăng tuổi thọ, chống viêm, giảm đau, trị ho, cầm máu, trị bệnh tiểu đường và trị ung thư.

Hiện nay ở thị trường nước ta đang có bán linh chi của Hàn Quốc, Trung Hoa và Việt Nam. Trên thị trường thế giới còn sử dụng rộng rãi sinh khối nấm sợi linh chi để làm thuốc.

http://hongsamhanquoc.net/news/cate/tim-hieu-nam-linh-chi.113.aspx

Vân chi

nấm vân chi

Là loại nấm được sử dụng lâu đời ở Nhật Bản và Trung Hoa. Các nhà khoa học Nhật Bản đã khám phá tác dụng điều trị ung thư dạ dày của vân chi đặc biệt khi kết hợp chế phẩm vân chi với các thuốc 5-fluorouracil và mitomixin. Sau đó còn xác định tác dụng phòng chống ung thư ruột già, ung thư thực quản, ung thư phổi và ung thư vú.

Các chế phẩm vân chi được sản xuất từ nấm tự nhiên (thu hái hay nuôi trồng) và sinh khối nấm nhân tạo. Cả hai loại cũng có tác dụng như nhau. Bước đầu ở nước ta, một số nhà khoa học đã nuôi cấy sinh khối nấm vân chi.

http://www.khoahoc.com.vn/khampha/sinh-vat-hoc/thuc-vat/6714_Nam-Van-Chi-hy-vong-moi-cho-benh-nhan-viem-gan-B-va-Ung-thu-gan.aspx

Nấm hương Nhật

Shitake

Còn gọi là Shitake. Nấm này cũng có tác dụng bổ dưỡng và phòng chống ung thư như vân chi.

Hiện nay ngoài trồng tự nhiên, người ta còn sản xuất bằng phương pháp tạo sinh khối Shitake để làm thuốc.

Thường phối hợp linh chi, Shitake và phục linh để làm thuốc bổ, kéo dài tuổi thọ.

http://url9.de/Pt9

Nấm múa

nấm múa

trong dân gian người ta ăn nấm này để tăng sức lực khi nhảy múa.

Nấm múa cũng có chứa các glycan như ở linh chi, vân chi, Shitake.

Các chế phẩm nấm múa đã được sản xuất ở Nhật, Mỹ, Trung Hoa …

Nấm múa có tác dụng tăng cường miễn dịch tăng sức khỏe cho người dùng. Nấm múa được thu hoạch từ nuôi trồng tự nhiên hay nuôi cấy sinh khối. 

Nấm cựa lõa mạch

là nấm ký sinh trên lúa mạch và hiện nay cũng được nuôi cấy tạo sinh khối để chiết các hoạt chất. Từ nấm này, sản xuất được các thuốc cầm máu tử cung sau khi đẻ: ecgometrin, ecgotamin và các thuốc trị đau nửa đầu như dihydroecgotamin. Trong nấm cựa lõa mạch có chứa nhiều acid lysecgic và từ acid này đã điều chế được chất LSD-25 là một chất gây ảo giác và kích thích mạnh nhất hiện nay. Chất này nằm trong danh sách các chất ma túy và ảo giác hàng đầu bị cấm sử dụng trong y học.

http://url9.de/Pt8

 

Werbeanzeigen