Võ sư Hà Châu

vshc

Thật bồi hồi xúc động khi nhận tin  Lão Võ sư Hà Châu một trong số ít những người đứng hàng đầu thế giới về Ngạnh công cũng là Chưởng môn  phái Thiếu Lâm Hồng gia tại Việt nam đã từ trần  vào ngày 20.10.2011.
Chợt nhớ đến danh hiệu Ummo ( Người ngoài hành tinh) của ông tại Ý và những nghề “thất kinh “mà  ông đã từng làm ,qua câu chuyện kể của  nhà văn Uyên Thao.
Nhân dịp tưởng niệm 49 ngày ông mất ,để nhớ lại quãng đời gian truân của ông và cũng là hoàn cảnh chung của dân miền Nam trong giai đoạn lịch sử sau 1975 ,
xin  đăng lại ở đây chuyện kể của nhà văn Uyên Thao:

SÀI GÒN  còn mưa bay không em?

Tạp bút * UYÊN THAO
Tôi ghi những dòng này vào đầu tháng Giêng 1999 dưới cái nắng đổ lửa của Sài Gòn nhưng lại chẳng nghĩ gì đến nắng mưa mà chỉ nhớ ngược về những chuyện hơn mười năm trước, khi tôi vừa ra khỏi nhà tù để tái nhập cuộc sống thành phố.
Thuở đó, tôi thường nghe thấy câu trả lời cho những thăm hỏi về cách mưu sinh của một người như sau:
– Nghề ngỗng lúc này của tôi hả? Nghề thất kinh, ông ơi!
Lần đầu nghe thấy, tôi thất kinh vì sự ngu dốt của mình. Tôi từng sống với nghề báo qua nhiều vai trò và lăn lóc gần khắp các miền đất nước từ Bến Hải tới Cà Mau mấy chục năm sao lại ngu tới mức không biết nghề thất kinh là nghề gì.
Nêu thắc mắc với vài người bạn thì được trả lời:
– Hãy đợi đó! Đến hẹn lại lên!
Cũng bù trớt luôn!
Một câu trả lời rõ ràng là ấm a ấm ớ! Nhưng không chỉ riêng cái tên nghề thất kinh khiến tôi phải thắc mắc, vì hàng ngày tôi còn được nghe nhắc hàng loạt tên nghề nghiệp chưa bao giờ có trong danh mục nghề nghiệp ở nơi nào trên thế giới.
Tôi dám đánh cá không một người Anh, Pháp, Đức, Mỹ… nào lại có cơ may được nghe những cái tên nghề nghiệp như nghề lủng lẳng, nghề cù cưa, nghề níu kéo, nghề xin đểu, nghề vợ thuê  vv và vv…
Dù chưa từng bước chân ra khỏi Việt Nam, tôi vẫn nói chắc như đinh đóng cột rằng dưới các mái gia đình, trong các quán ăn hay trên các hè phố ở London, Paris, New York, Berlin… không thể có những câu đối thoại như thế này:
– Tay đó chuyên nghề lủng lẳng thì lọt vào mắt xanh con nhỏ sao nổi.
– Bộ con nhỏ đó thì hơn gì?
–       Hơn chớ, nó vừa nhập nghề vợ thuê.
Tui dám cá là một tháng nữa con nhỏ sẽ láng bóng cho coi.
Thành dân quí phái mấy hồi!
Hoặc:
– Coi chừng mấy đứa hành nghề xin đểu. Giếm kỹ các thứ trong người đi, các cụ!
– Tụi nó sức trâu vậy mà sao không chuyển sang nghề cù cưa cho mau phất nhỉ?
– Dễ gì! Muốn nhập nghề cù cưa cần có bằng cấp hoặc bộ vó sinh viên mới duyệt!
– …
Tôi may mắn hơn bất kỳ người xứ nào trên thế giới vì hàng ngày luôn được nghe những câu đối đáp như thế và còn được gặp gỡ, trò chuyện với cả những người đã hoặc đang hành những nghề như thế.
Tôi cũng may mắn không cần chứng minh tính xác thực của điều mình nói ra vì báo chí ở đây đã loan nhiều lần về những nghề đó. Và, khi nghe những mẩu đối thoại này, tôi luôn nhớ lại một hình ảnh sinh hoạt lập lại nhiều ngày tháng trong tù.
Sau 30.4.1975, Sài Gòn đổi tên và một người soạn nhạc nào đó đã soạn ra một bài ca với những lời ca đầy tự hào: Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh… Ôi đẹp biết bao…Vui sao nước mắt lại trào…!
Bài ca được đưa vào các trại tù và một tù nhân trẻ chung phòng với tôi, Hải Xẹp, đã ngồi dựa lưng vào vách, lim dim hai mắt hát như gào lớn cho cán bộ bên ngoài có thể nghe thấy, trong lúc kéo dài mấy tiếng cuối cùng: Vui sao nước mắt lại trào… Vui sao nước mắt lại trào…!
Bài ca trở thành trò giải trí của đám tù hạng ba hạng tư, tức thứ tù hạng bét. Ở trại tôi, mấy loại tù này chỉ được hưởng mỗi tháng 3 kí gạo vào những thời kỳ có gạo và không được nhận thăm nuôi nên đói thường xuyên. Đã đói thì ôm bụng nhăn nhó vẫn đói nên nghêu ngao cho qua. Bài hát trở thành một thứ thuốc cứu đói.
Cái cách tự cứu đói này khiến nổi lên trong đầu tôi một câu hỏi về đời sống thực của Sài Gòn nói riêng và cả nước nói chung, sau ngày 30.4.1975.
Tôi không tìm lời giải đáp, nhưng khi ra khỏi nhà tù đã tự bày cho mình một trò giải trí là sưu tập tin tức, hình ảnh về cuộc sống Sài Gòn.
Trò chơi lẩm cẩm này suýt mang họa cho tôi vào năm 1988, khi anh công an khu vực bất ngờ đập cửa và đi thẳng tới chiếc bàn kê ở góc nhà. Anh ta vồ lấy đống báo tôi đang cắt dán, thẩm vấn dồn dập:
– Ai cho làm việc này?
– Cắt dán những thứ này làm gì?
– Lấy tiền ở đâu để mua keo?
– …
Một loạt câu hỏi tuôn ra như đạn AK, nhưng tôi đang mang áo giáp nón sắt, vì tất cả những thứ cắt dán đều là báo chí nhà nước. Tôi nhớ tới người tù trẻ khi cán bộ trại giam hỏi về lý do hát mãi bài hát kia. Lúc đó, Hải Xẹp đã tạo bộ mặt trang nghiêm của người đưa đám giải thích đây là cách bày tỏ lòng kính yêu đối với Bác!
Lập tức tôi cũng lấy giọng trang nghiêm không kém giải thích với anh công an khu vực là dù đã ra trại, tôi vẫn cần tiếp tục học tập nên phải giữ những bài viết cùng hình ảnh của báo chí nhà nước, còn keo dán và giấy tờ là những thứ lượm trong khi đi bới rác.
Tất cả đều hoàn toàn trong sáng!
Không bắt bẻ được, anh công an gầm gừ:
– Truyền đời cho hay đừng có mưu đồ láo lếu. Tôi mà bắt gặp có trò gì bậy bạ thì biết tay.
Tôi nhẩm thầm trong họng câu nói cửa miệng của đám tù chúng tôi khi còn ở trại:
– Chuyện nhỏ! Đừng ồn!
Tuy vậy, tôi cũng vứt những gì đã cắt dán và thôi không cắt dán nữa, dù không thể bỏ thói quen đọc báo. Tôi đọc bằng nhiều cách, hoặc qua những mảnh giấy gói đồ, qua những đống ve chai hoặc đọc ké ở đâu đó. Tôi tự nhủ:
– Không cắt dán thì nhớ bằng cái đầu.
Tôi vẫn cho rằng ký ức của tôi không tệ lắm so với thời con nít đi học ở Hà Nội.
Thuở đó, tôi lười chảy thây, tối ngày chỉ lăn vào mấy trò múa tay múa chân, nhưng thầy giáo và các bạn lại phong cho tôi danh hiệu học trò chăm chỉ. Lý do đơn giản là tôi luôn trả bài thuộc lòng tới từng dấu chấm, dấu phẩy. Trên thực tế, tôi chỉ mở sách nhìn vào bài trong lúc đi bộ từ nhà tới trường và cũng chẳng hiểu tại sao có thể trả bài trơn tru tới thế.
Cuối thập niên 80, hẳn tôi khó giữ nguyên ký ức của thời con nít, nhưng chưa quên khá nhiều chuyện cũ. Tôi vẫn nhớ những giai thoại về thiên đường vô sản Nga do một người dường như có tên là Pirogov kể lại trong tác phẩm Why I escaped? mà tôi đọc hồi đầu thập niên 50. Pirogov là phi công Hồng Quân Liên Xô được phong danh hiệu Anh Hùng sau đệ nhị thế chiến và đã được vinh dự chọn bay biểu diễn nhiều lần trên Công Trường Đỏ Moskva vào các dịp kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười dưới triều đại lãnh tụ Staline.
Pirogov kể lại rằng sau đệ nhị thế chiến, nhiều vị anh hùng không còn được tiếp tục ở trong quân đội nên gia nhập đám người thất nghiệp lêu bêu xuôi ngược khắp nước Nga. Trong đám người thất nghiệp thì những vị anh hùng này may mắn hơn nhờ mang tước hiệu anh hùng. Đây là lý do khiến một người bạn thân của Pirogov cũng từng được phong danh hiệu anh hùng Không Quân Xô Viết kiếm được việc làm tại một Sở Thú ở Moskva sau hơn hai năm trôi giạt.
Người bạn này kể lại với Pirogov là sau khi vượt qua khâu nghiệm xét hồ sơ lý lịch căng thẳng, anh phải đáp ứng một loạt đòi hỏi như sẽ tới Sở sớm hơn giờ làm bình thường, ra về trễ hơn, không nghỉ cuối tuần, không nghỉ lễ, không tiết lộ một chi tiết nào về việc làm của mình với ai kể cả vợ con…
Anh coi hết thẩy đòi hỏi đó như pha trước niềm vui có việc làm và ký cam kết ngay. Thủ trưởng cơ quan đích thân cho biết anh sẽ được vinh dự đặc biệt nhận một nhiệm vụ có tầm mức quan trọng như một bí mật quốc gia.
Rồi, anh được dẫn vào chuồng gấu.
Tại đây, anh được trao một bộ da gấu để choàng lên người và được chỉ dẫn cách biến mình thành gấu.
Thói quen vùng vẫy giữa trời cao của một phi công khiến anh ngột ngạt khi phải chui vào bộ da gấu, quanh quẩn trong khung chuồng hẹp cho đám trẻ nít xúm lại trêu chọc. Nhưng anh tự an ủi là ít vất vả hơn so với những ngày lêu bêu trôi giạt. Vả lại, Sở Thú Moskva sẽ nhờ anh mà có thể tự hào không thua bất kỳ Sở Thú nào trên thế giới để tô đẹp uy danh chế độ và đất nước. Điều lo lắng duy nhất của anh là chuồng gấu nằm ngay cạnh chuồng cọp. Anh luôn run bắn người khi tưởng tượng cánh cửa thông sang chuồng cọp không được đóng kỹ.
Không dè mối lo của anh thành sự thực!
Một bữa, nhân viên Sở Thú quên đóng cánh cửa này và khi anh phát giác thì con cọp đã lù lù giữa khung cửa.
Anh kinh hoàng lui sát góc chuồng trong lúc con cọp lừng lững tiến qua. Lưỡi anh ríu lại không phát nổi lời kêu cứu, dù lúc đó anh quên béng mình đang đội lốt gấu và quên luôn cả lời cam kết không được lộ tông tích trong bất kỳ trường hợp nào.
Anh co rúm người run rẩy chờ đợi giây phút cuối cùng đang đến gần theo từng bước chân của con cọp.
Khoảng cách thu ngắn dần trong lúc anh lạc hồn vì chiếc đuôi liên tục ngoe nguẩy của con ác thú đang thận trọng bước tới. Gần như anh không còn nhìn thấy gì ngoài con cọp mỗi lúc một lớn hơn và khiếp hãi với ý nghĩ nó sắp chụp thẳng lên đầu anh.
Con cọp dừng lại khi tới cách anh không đầy hai thước. Và, anh bỗng nghe thật rõ một hơi thở dài rồi một giọng nói thì thào: – Đừng sợ! Đồng chí ở đâu tới?
Thì ra con cọp đó cũng là đồng chí của anh!
Tôi nhớ lại câu chuyện này nhiều lần, đặc biệt sau khi đọc cái tin vào đầu tháng 7.1998 về việc Viện Hải Dương Học Nha Trang nhận được quà tặng Trời ban là một cặp hải cẩu.
Hải cẩu là thứ hoang thú sống tại Bắc Cực nhưng hai con kia bị hải lưu cuốn trôi tới bờ biển Việt Nam.
Một con sa lưới cá cờ của ngư dân xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi ngày 21.5.1998 cách cửa Sa Cần 17 hải lý, còn một con do ngư dân thôn Đức Thuận, huyện Bố Trạch, Quảng Bình bắt được ngày 17.6.1998 cách cửa sông Lý Hoà 15 hải lý.
Viện Hải Dương Học Nha Trang lập tức nổi tiếng vì có một cặp vật lạ của miền Bắc Cực. Ngay giữa cơn sốt theo dõi cúp bóng đá thế giới France 98, nhiều người vẫn tìm tới Nha Trang để được nhìn tận mắt coi hải cẩu như thế nào.
Nhưng báo chí lại nói về một mối lo của nhân viên Viện này. Theo chuyên gia Pháp Jean Paul Alayse có mặt tại đây thì không cần tạo môi trường lạnh cho cặp hải cẩu, vì chúng đã quen với biển nhiệt đới khi bị cuốn theo hải lưu. Tuy nhiên, lấy đâu ra tiền để cung cấp thức ăn cho chúng là mối băn khoăn không nhỏ.
Báo chí nhắc lại số phận con cá heo do các chuyên gia Liên Xô mang từ Hắc Hải sang tặng cho Viện này đã chết xình trong hồ chỉ sau một thời gian ngắn. Khi đó, các chuyên gia vớt xác con cá lên mổ ra để tìm hiểu lý do khiến nó không sống nổi thì thấy trong ruột nó toàn bịch ni lông và bã mía.
Mối lo về số phận hai con hải cẩu khiến tôi nhớ lại câu chuyện Pirogov kể.
Tôi bỗng nghĩ lẩn thẩn rằng nếu hai con hải cẩu kia không thể kéo dài cuộc sống bằng bịch ni lông và bã mía thì thịt của chúng chắc sẽ là món ăn quí cho người có cơ hội chia xẻ và da của chúng nếu đủ che kín một thân người thì Viện Hải Dương Học Nha Trang vẫn không lo mất thành tích có một cặp vật lạ của miền Bắc Cực mà còn có dịp trao vinh dự đặc biệt cho một, hai vị anh hùng nào đó.
Ngay tại Sở Thú của thủ đô Moskva tại xứ sở thành trì cách mạng vô sản thế giới, người và vật còn hòa nhập làm một trong màn xiếc hóa thân được cả nước tự hào thì ở một cơ sở địa phương thuộc một quốc gia nhược tiểu cỡ Viện Hải Dương Học Nha Trang, chuyện đó rõ ràng chỉ là chuyện nhỏ.
Ngoài ra, ngay những anh hùng của xứ sở thành trì cách mạng vô sản thế giới vẫn thấy việc đội lốt hoang thú là vinh dự trên đường kiếm sống thì chẳng có nghề nào đáng chê hết.
Dù vậy, cái tên nghề thất kinh vẫn cứ trở lại với tôi và làm sống lại hàng loạt hình ảnh không do tôi cắt ra từ báo chí mà do chính bản thân đã trải qua.
Tôi nhớ lại một bữa hơn mười năm trước, Nguyễn Kinh Châu — văn phòng trưởng văn phòng đại diện nhật báo Sóng Thần tại Huế thuở nào — cùng một người bạn tới chùa Pháp Hoa kiếm tôi. Anh vỗ vỗ tay vào một bên túi quần, làm ra dáng ta đây có tiền:
– Đi kiếm quán phở.
Ba chúng tôi đi bộ ra cầu Trương Minh Giảng ngược sang phía ngã ba Kỳ Đồng.
Hè đường lủng củng đủ loại gánh hàng, mía ghim, bún ốc… nên chúng tôi phải đi xuống lòng đường. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện và trong một thoáng tôi bỗng thấy một khối đen lao thẳng vào mình. Nửa ngực bên phải tôi lãnh một cú đập như trời giáng khiến tôi bị hất xoay bật đi. Rất may tôi kịp giữ được mình không té vật xuống đường. Giữa khoảnh khắc thảng thốt đó, một chiếc xe Lam vụt ghé vào lề đường ngay sau lưng tôi để đón khách. Tài xế nghiêng người kéo một hành khách lên xe rồi chiếc xe lao vút đi. Anh ta không thèm nhìn lại coi nạn nhân của anh ta ra sao.
Tôi nhìn xuống ngực mình. Chiếc áo do một người bạn vừa tặng hôm trước rách xoạc từ vai xuống ngang thắt lưng và ngực tôi in hằn vết đập của cạnh khung xe Lam, đau ê ẩm. Nguyễn Kinh Châu ngắm tôi, bình luận:
– Thất kinh chưa!
Tôi ôm ngực theo bạn vào tiệm phở và từ đó bắt đầu hiểu lờ mờ về hai tiếng thất kinh.
Mấy tháng sau thì chính tôi cũng thành thạo với cách trả lời dính đến hai tiếng này.
– Lúc này đang làm gì?
– Nghề thất kinh!
Không ai cần lời giải thích nào. Mấy tiếng nghề thất kinh cứ được ném ra và được chấp nhận tùy theo tình thế và tùy theo cách hiểu của người nghe.
Muốn hiểu sao thì hiểu!
Tôi kiếm được chân đan mành trúc cho một nhóm gia công ở khu Chùa Miên, Trương Minh Giảng. Nơi làm việc của tôi là một gian nhà sàn giữa đám nhà chen chúc trên bờ kinh Nhiêu Lộc.
Tôi luôn phải bì bõm vượt một đoạn đường dài ngập nước xình tới ngang đầu gối, mò mẫm bước theo những tấm ván nhỏ để tới nơi làm việc xặc xụa mùi hôi thối xông lên từ con kinh nhầy nhụa bùn đen không ngừng bị khuấy bởi đám trẻ nít bới lượm bọc ni lông và toát ra từ chính thân thể dính nước xình của mình.
Tôi tới chỗ làm lúc 7 giờ sáng, ngồi đan liền tù tì tới 12 giờ trưa. Nghỉ nửa giờ ăn một khúc bánh mì rồi tiếp tục một lèo nữa tới 6 giờ chiều. Chấm dứt buổi làm, tính sổ tiền công trừ khúc bánh mì, tôi dư một khoản đủ mua ba điếu thuốc lá lẻ.
Bữa ăn chiều thì sao?
Nói theo đúng lời lẽ của các viên chức nhà nước đương thời mà tôi đã được nghe nhiều lần thì chuyện đó thuộc phạm vi trách nhiệm cá nhân đối với bản thân. Tôi đang ở chùa và thường có bạn bè ghé qua nhòm ngó nên không hãi lắm. Thêm nữa, tôi mới ra khỏi tù mấy tháng nên còn giữ được thói quen “khắc phục” đi nằm với cái bụng lép.
Sau thời gian quản chế, một người bạn cho tôi chiếc xe đạp.
Nhờ vậy, tôi có thể mở rộng không gian của mình. Tôi giã từ nghề đan mành trúc, chuyển sang nghề bỏ mối thêu, món hàng đang ăn khách vì được người từ nước ngoài về chiếu cố.
Tôi nhớ một xấp vải thêu có giá từ 10 tới 20 ngàn còn công thêu thường từ 1 tới 2 ngàn, tùy theo mẫu và tay nghề. Việc của tôi là tới một cơ sở nhận hàng mang đi giao cho thợ thêu. Thợ thường ở những vùng ngoại ô xa trung tâm thành phố và do người giao hàng tự lo kiếm lấy.
Mỗi ngày, tôi đạp xe ngược lên Cát Lái, vòng về Thủ Thiêm, xuôi xuống Bà Quẹo, Hóc Môn, băng qua Gò Vấp… Tôi la cà vào những con hẻm xa hút, hỏi thăm chỗ nào có thợ thêu thì tìm tới bàn tính giá cả. Giao được một món hàng, tôi phải trở lại nhận về vào tuần sau để trả cho cơ sở. Hoàn tất êm xuôi và việc thêu được đánh giá đạt tiêu chuẩn, tôi sẽ được hưởng 10 phần trăm tính trên tổng số tiền công, cụ thể là từ 100 đồng tới tối đa 200 đồng.
Tính ra không khá hơn so với nghề đan mành trúc nhưng được bù lại ở điểm khỏi phải lội nước xình và thở hít không khí nhiễm mùi bùn suốt ngày. Hơn nữa, tôi không phải ngồi chết dí một chỗ với mấy ống trúc và mấy cọng kẽm mà luôn được di chuyển giữa trời.
Nhưng mấy tiếng “hãy đợi đó” mà mọi người thường nhắc cũng có một ý nghĩa bao la không kém mấy tiếng nghề thất kinh.
Cái gì cũng phải đợi rồi mới rõ.
Tôi đang thoải mái với việc đạp xe ngang dọc từ Thủ Đức về Sài Gòn, vào Bình Chánh sang Gò Vấp thì bỗng bị khựng ngay trước ngõ nhà mình.
Từ Cư Xá Thanh Đa đạp qua Ngã Tư Xa Lộ gần xịch. Vừa qua Ngã Tư Xa Lộ, tôi chui vào con hẻm phía đối diện trường Nguyễn Duy Khang và kiếm được một cô thợ thêu.
Cô gái mới ngoài hai mươi tuổi, mừng ra mặt khi nghe tôi nói sẽ giao hàng đều đặn cho cô, nếu chấp nhận mức công xá do tôi đề nghị.
Mọi sự đều tốt đẹp.
Tôi giao cho cô một món hàng xịn, trị giá 20 ngàn đồng với lời hẹn bảy ngày sau trở lại lấy.
Đúng ngày tôi trở lại, cô gái đi vắng. Mẹ cô nói “cháu hẹn ông trưa mai”.
Trưa hôm sau, giữa cơn nắng gắt tôi lóc cóc đạp xe tới. Căn nhà đóng cửa. Hỏi thăm hàng xóm, không ai rõ mẹ con cô thợ thêu bận việc gì, đi đâu.
Buổi tối, dù mệt nhoài, tôi vẫn tìm tới.
Lần này tôi gặp cô gái.
Cô phân trần mấy bữa rày bận quá chưa kịp làm, xin cho cô khất tới tuần sau.
Đành vậy thôi!
Dù sao đây cũng là công việc mang tính nghệ thuật, đâu có thể thúc ép. Tôi trở về xin lỗi cơ sở về việc chậm trễ và hẹn lại.
Một tuần sau, tôi đạp xe vào con hẻm sâu hút.
Lần này tôi đi vào buổi tối. Cho chắc ăn! Vì cô gái có thể làm chậm hơn một chút.
Tới nơi, tôi thấy cô gái đang ngồi với mẹ trong nhà. Nhưng tôi lạ lùng bắt gặp ánh mắt lạnh tanh của cô. Đáp lại câu hỏi đon đả của tôi, cô nhíu mày:
– Ông nói gì? Hàng nào?
Tôi ngạc nhiên:
– Hàng tôi giao cho cô thêu và cô hẹn hôm nay giao lại.
Bà mẹ cô lập tức bật đứng lên, lớn tiếng:
– Ở đây không may thêu gì. Đừng có hòng kiếm chác. Anh là ai mà tới dựng chuyện?
Tôi sững sờ toan lớn tiếng, nhưng kịp nhận ngay ra thế nguy của mình. Phía ngoài cửa, một đám đông lố nhố kéo tới từ lúc nào đang bao quanh chiếc xe đạp của tôi. Không chần chừ, tôi lao ra, nắm chắc ghi đông xe.
Hai mẹ con cô gái cũng lao ra theo, nói như gào:
–       Hết chỗ kiếm ăn hay sao mà dám dẫn xác tới đây bày đặt nói càn. Dám thưa thì đi thưa đi.
Tôi chưa biết trả lời sao thì một người trong đám đông lên tiếng:
– Thưa kiện con mẹ gì! Khôn hồn thì cút đi cho khuất mắt. Ở đây hổng có chỗ cho mấy thằng lưu manh xạo sự.
Cả đám đông lập tức nhao nhao và một đứa trẻ khoảng mười tuổi nhào tới đá vào chiếc xe đạp của tôi.
Tội nghiệp chiếc xe bỗng dưng bị đòn oan. Tôi nhìn quanh thấy ít nhất có mười mấy cặp mắt già trẻ, lớn bé hằm hè chiếu vào mình và nhớ tới cái tước hiệu thằng lưu manh xạo sự mà mình vừa được gán ghép.
Giữa con hẻm tối tăm với mức lực lượng chênh lệch này và nhất là ngọn cờ chính nghĩa đang nằm trong tay đám đông, tôi còn cách nào hơn là theo lời khuyên của Tôn Tử, thực hiện cái kế sách thứ ba mươi sáu.
Tôi nhảy lên xe, đạp đi giữa tiếng la ó chửi bới như một góc chợ cá Cầu Ông Lãnh.
Tôi đạp vùn vụt bất chấp con hẻm ngoằn ngoèo đầy người qua lại ra tới đường lớn mới dám ngừng để thở hắt ra vì thoát nạn. Nhưng vừa thở ra được một hơi tôi đã phải nín ngay vì sực nghĩ tới cái giá 20 ngàn của xấp vải. Moi đâu ra số tiền này để bồi thường cho cơ sở? Giỏi lắm thì mỗi ngày tôi cũng chỉ kiếm được từ 300 tới 500 đồng.
May mắn tôi được thông cảm cho ký giấy nợ với lời cam đoan trả dần hàng tháng theo khả năng. Bỗng dưng vác món nợ trời ơi, tôi không còn dám mơ tưởng tiếp tục nghề bỏ hàng thêu nữa. Sức vóc và miệng lưỡi của tôi không hợp với cái nghề này.
Một nghề thất kinh.
Mức thất kinh càng lớn hơn khi tôi nhớ tới ánh mắt lạnh tanh của cô gái nhìn tôi, nhớ tới độ tuổi trẻ trung và hình vóc mảnh mai duyên dáng của cô. 
Nhưng bỏ nghề này thì phải kiếm nghề khác và phải kiếm tức khắc, vì cái bao tử không biết chờ đợi.
Tôi đi kiếm người quen để tìm lối thoát.
Một anh bạn trẻ thuở xưa lúc này đã trọng tuổi đang hoạt động trong ngành thể dục thể thao, bàn với tôi:
– Với khả năng tổ chức và cái vốn kỹ thuật sẵn có  thì anh nên mở lò võ. Tụi tôi sẽ xúm lại giúp anh. Phong trào học võ đang phát triển, chắc chắn sẽ có nhiều võ sinh. Anh chỉ cần thu mỗi võ sinh cỡ 3 ngàn hoặc 5 ngàn một tháng là đủ sống. Hạng bét cũng phải có 20 võ sinh.
Những tháng cuối năm 1974, tôi đã nẩy ra ý nghĩ đem võ thuật vào học đường khi lui tới với mấy người bạn ở trường Nhân Chủ. Lúc này, tôi rất thích ý kiến của anh bạn và tìm cách thực hiện.
Việc trước tiên của tôi là tới quan sát các lò võ và gặp một số võ sư đang hoạt động.
Võ sư Trần Tiến là người đầu tiên tâm sự với tôi:
Tôi quý chú lắm, nhưng chuyện không dễ gì. Chú biết tôi là người thế nào cả về chuyên môn lẫn tương quan với chế độ. Nói vậy để chú thấy tôi có nhiều điều kiện vượt xa chú. Vậy mà lò võ của tôi, như chú thấy đó, chỉ có chưa tới hai mươi võ sinh gồm cả những đứa miễn phí vì nhà nghèo quá. Đó là chưa kể những lôi thôi xảy ra hàng ngày từ đủ mọi phía. Tạm gác lại việc lý lịch của chú mà chỉ nói riêng về việc đối phó với đám đầu trâu mặt ngựa đầy rẫy trong các khu phố cũng đủ nhức đầu.
Chú có biết là một thằng già tám chục tuổi như tôi mà đã nhiều lần bị chúng kéo đến chửi bới thách thức, rồi liệng đủ thứ vào sàn tập của mình không? Không lẽ mình đánh chúng nó, mà im lặng thì còn làm được gì nữa. Đau đầu lắm, chú ơi!
Năm 1936, khi tôi chưa tròn 3 tuổi, võ sư Trần Tiến đã trở thành Vô Địch Kiếm Thuật Đông Dương. Hai năm sau đó, 1938, trên võ đài quốc tế Singapore, ông đã hạ đối thủ đang nổi danh người bất bại đương thời là võ sĩ Singapore Tiểu Lâm Xung.
Năm 1945, ông tham gia bộ đội kháng chiến, trở thành sĩ quan chỉ huy lực lượng đặc công. Ông được mang cấp bậc Đại Tá và còn trực tiếp truyền thụ võ thuật cho nhiều nhân vật lãnh đạo cao cấp. Năm 1956, ông bị coi là có vấn đề về tư tưởng nên bị loại khỏi quân ngũ. Nhờ từng là thầy dạy võ của một số nhân vật lớn, ông tương đối tránh khỏi nhiều khó khăn ngộp thở trong cuộc sống riêng.
Sau 1975, ông bỏ miền Bắc vào Sài Gòn mở một sàn tập bên đường Chi Lăng nằm trong vòng rào của Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hoà thuở trước.
Ông kể tiếp với tôi về những hậu quả mà tôi có thể phải nhận lãnh khi mở lò võ, vì chắc chắn sẽ không ai nhìn sự việc chỉ đơn thuần là tôi đang lo chuyện kiếm cơm.
Hai chữ thất kinh lại ló ra, nhưng tôi vẫn gặp thêm một số bạn bè trong đó có Từ Võ Hạnh. Từ Võ Hạnh từng nổi tiếng với nhiều môn Karaté, Tae Kwon Do, Thiếu Lâm… cho biết anh cùng một số bạn cũ đang bị cấm hoạt động võ thuật. Những người chung xuồng với anh đều là những người có tên tuổi trong võ giới miền Nam trước 1975 như Bạch Văn Lai, Nguyễn Hoàng Tuấn, Phạm Quang Thông… phải mở sàn tập chui tại nhà một người quen để duy trì sự tập luyện của riêng mình.
Lý do lâm cảnh ngộ trên chỉ vì Từ Võ Hạnh cùng các bạn trót thấm nhuần cái nghĩa của câu “tôn sư trọng đạo” khi tới võ đường thuở nào. Do sự thấm nhuần đó nên mặc dầu Phạm Quang Thông từng đoạt chức vô địch Á Châu, Từ Võ Hạnh từng nổi tiếng có cú đá bay số một Việt Nam và Bạch Văn Lai từng đoạt nhiều danh hiệu vô địch trong nước…vẫn không quên bổn phận môn sinh đối với người dạy dỗ mình là võ sư Choi Hong Hi.
Khi võ sư Choi Hong Hi qua viếng Việt Nam, những người này họp nhau lại ra Hà Nội chào đón thầy.
Chuyện chỉ có vậy, nhưng được Nhà Nước nhìn theo khía cạnh khác và giới chức trách thể dục thể thao lập tức liệt tất cả vào sổ đen rồi một quyết định được đưa ra: triệt để cấm tham gia mọi hoạt động võ thuật vì đang manh nha chuyển lửa về quê nhà.
Vấn đề nâng cấp tư duy đã được đặt ra và sau cái hậu quả tức thời là cấm hoạt động võ thuật chưa biết điều gì sẽ ập tới. Tiết lộ của Từ Võ Hạnh khiến tôi thất kinh thực sự.
Rồi, một buổi sáng Từ Võ Hạnh tới Cư Xá Thanh Đa từ biệt tôi. Tối hôm đó, anh lên đường qua Mỹ định cư theo chương trình HO.
Chúng tôi ngồi với nhau ở một quán cà phê vườn vắng khách và tôi đau nhói trong ngực khi nhìn những dòng nước mắt lăn dài trên gò má Hạnh. Hạnh là người đầu tiên thúc đẩy sự tái sinh phong trào võ thuật tại thành phố Sài Gòn sau năm 1975 mong đem lại một điều tốt đẹp cho giới trẻ. Cuối cùng, anh thấy rõ không phải ý hướng tốt đẹp nào cũng được chấp nhận. Anh không muốn xa quê hương, nhưng không thể ở lại quê hương, vì nâng cấp tư duy vẫn được xưng tụng là võ khí tuyệt hảo để bảo vệ chế độ. Và, bảo vệ chế độ mới là điều thực sự quan trọng trong cuộc sống ở đây.
Không lâu sau đó, đến lượt Phạm Quang Thông nối gót Từ Võ Hạnh. Tiếp tục ở lại Sài Gòn chỉ còn Bạch Văn Lai nhưng Lai không dám nhìn khỏi giới hạn cái sạp vải của vợ con tại chợ An Đông.
Tôi không tơ tưởng đến võ thuật nữa, vì ngay cả những người sống cùng võ thuật với trọn vẹn nỗi say mê như thế cũng phải ứa nước mắt lánh xa thì một kẻ hụ hợ dựa dẫm như tôi khó tránh nát xác nếu dám bước vào.
Nhưng vẫn giữa dòng sinh hoạt võ thuật, tôi đã tìm thấy cái nghĩa cụ thể nhất của mấy tiếng nghề thất kinh.
Người giúp tôi tìm thấy cái nghĩa đó là Hà Châu.
Hachau

Đầu năm 1957, khi nhà nước Đệ Nhất Cộng Hòa cho phép mở Hội Chợ Mùa Xuân tại Thị Nghè, Hà Châu đã tham gia một tiết mục của chương trình hội chợ. Trong tiết mục này, anh đứng giữa hai chiếc xe tải, cột hai tay vào những khoen xích sắt gắn sau xe và hai chiếc xe nổ máy rồ hết ga phóng về hai phía ngược chiều nhau. Người xem bu lại, kinh hoàng sợ anh sẽ bị xé xác thành hai mảnh trong nháy mắt. Nhưng hai chiếc xe xoay bánh tới tóe lửa vẫn bị anh ghìm cứng tại chỗ.
Lần biểu diễn đó của anh tại Hội Chợ Thị Nghè khiến cây cầu bắc qua từ Sở Thú bị nhiều đợt sóng người dồn nghẹt cứng, gây thành một tai nạn thảm khốc với số nạn nhân lên đến cả trăm do xô đạp lẫn nhau và rớt xuống sông. Số người chen lấn quá đông và dữ dội tới mức khiến thành sắt hai bên cầu bị uốn cong vòng ra bên ngoài.
Năm 1991, tôi gặp lại Hà Châu. Tóc anh đã bạc, nhưng anh nhuộm đen nhánh. Gặp tôi, anh nhắc:
Tôi với thầy ra chân cầu Sài Gòn lai rai chút đi. Dù sao thì bây giờ lại vẫn còn đủ “song Châu” như thường.
Hà Châu thường gọi tên thật của tôi thay vì gọi bút hiệu và vẫn có thói quen gọi bạn bè bằng tiếng “thầy” như kiểu môn sinh của anh xưng hô.

Chúng tôi ngồi với mấy chai la de và một mớ trái cây.
Hà Châu cho biết những nghề anh làm sau 1975 đều là nghề thất kinh cả. Trước tiên anh lao vào nghề thợ tiện rồi đi rèn dao búa…

Ít năm trước, một số người trong xóm đề nghị anh trở lại với võ thuật. Anh học võ từ nhỏ tại Hong Kong thuộc Thiếu Lâm Hồng Gia Phái nên rất hào hứng với sự thúc đẩy này. Những sắp đặt tiếp theo không khó khăn lắm vì đang giữa lúc tư nhân được khuyến khích đóng góp khả năng nghề nghiệp. Thời gian này là dịp chuẩn bị đón năm mới Quí Hợi hay Giáp Tý khoảng cuối 1983 hoặc 1984 chi đó, và Hà Châu được đề nghị biểu diễn ngay tại địa phương của mình — xã An Khánh, huyện Thủ Đức. Mọi người giúp kiếm được một cỗ xe hủ lô lăn đường và màn biểu diễn của anh là nằm dưới đất cho xe cán ngang qua ngực.

Màn này anh từng biểu diễn nhiều lần trước 1975 và đã có lần một tờ báo ở Sài Gòn loan tin anh bị xe hủ lô cán chết tại Cần Thơ.

Tôi còn nhớ đó là tờ Tia Sáng do ông Nguyễn Trung Thành làm chủ nhiệm.

Vo-su-Ha-Chau-cho-xe-lu-12-tan-can-qua-nguoi

Cuộc biểu diễn đầu tiên sau nhiều năm xa nghề của Hà Châu thành công hoàn hảo. Mọi người xúm lại đề nghị anh đứng ra huấn luyện võ thuật cho con em họ.
Hà Châu khấp khởi mừng vì đã le lói triển vọng không còn phải trôi giạt lênh đênh nữa.
Nhưng cuộc sống vẫn thường không cho phép một niềm vui kéo dài, vì mọi hy vọng tốt lành của con người dường như luôn khiến dấy lên nỗi đố kỵ theo kiểu Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen mà thi hào Nguyễn Du đã nhắc.
Chưa đầy hai mươi bốn giờ sau khi Hà Châu biểu diễn, võ khí nâng cấp tư duy lập tức được vận dụng và Hà Châu tiếp nhận ngay quyết định chính thức của vị Chủ Tịch xã An Khánh: trục xuất khỏi xã.
Cùng với văn thư gửi tới buộc Hà Châu thi hành lệnh còn có nhiều bản cáo thị được in ra đàng hoàng dán khắp các tụ điểm trong xã vạch mặt một phần tử xấu cực kỳ nguy hiểm đang mưu đồ lũng đoạn tinh thần bà con.(*)
Vị Chủ Tịch Xã đã triệu tập phiên họp khẩn cấp giới lãnh đạo toàn xã để trực tiếp chỉ đạo các ấp trưởng cùng các cán bộ phụ trách an ninh kịp thời đối phó với tình hình!(*)  Lý do được vị Chủ Tịch Xã nêu ra là không ai có thể biến thành mình đồng da sắt để chịu đựng cả khối nặng mấy tấn cán ngang. Chuyện Hà Châu đã làm trong đêm qua là một trò phù thủy và tên đó đích thị là một tên phù thủy vô cùng nguy hiểm, cần diệt trừ.(*)
Cuộc hô hào của vị chủ tịch được nhiệt liệt hưởng ứng bởi mọi cấp cán bộ trong xã. Riêng số cán bộ đã lỡ tiếp tay cho Hà Châu tổ chức buổi biểu diễn càng hưởng ứng hăng hái hơn để chứng tỏ tinh thần phục thiện cực cao của mình.
Hà Châu bị đuổi khỏi xã trong thời hạn cấp kỳ 24 giờ và còn được giải thích đó là do lòng nhân ái và chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Bởi lẽ, một tên phù thủy nguy hiểm dám ló mòi đầu độc quần chúng bằng những ma thuật như thế nhẹ nhất cũng phải tống cổ vào trại cải tạo.(*)
Người xưa vẫn nói “chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết” trong khi những cái khẩu ở đây đều có gang có thép cả thì cựa vào đâu nổi, dù Hà Châu là một võ sư khổ luyện nhiều môn ngạnh công.
Thế là chỉ sau mấy tiếng đồng hồ khấp khởi hy vọng thoát kiếp lêu bêu, Hà Châu lại lâm cảnh lêu bêu thảm hại hơn vì trở thành kẻ không nhà và không được phép tiếp tục có mặt trong vùng địa phương đã quen thuộc từ nhiều năm qua.
Khi ngồi với tôi bên bờ sông Sài Gòn dưới chân cầu Xa Lộ, Hà Châu cho biết anh đã được trở về ngôi nhà cũ rồi. Chính vị chủ tịch xã từng đuổi anh mấy năm trước lại thích thú làm quen với anh và không còn nhắc nhở gì đến mấy tiếng tên phù thủy nguy hiểm nữa.
Lý do đơn giản là mấy vị được phân công lo về võ thuật trong thành phố có một ngày chợt nhớ tới cái tên Hà Châu. Những người này đã đi kiếm anh, đề nghị giúp họ vào các dịp cần giới thiệu bộ mặt võ thuật thành phố với khách ngoại quốc.
Anh được đưa ra biểu diễn tại các đại hội võ thuật rồi tiến lần tới những cuộc biểu diễn kiếm tiền tại các khu giải trí Đầm Sen, Kỳ Hòa…
Các cuộc biểu diễn của anh như lấy cần cổ làm điểm tựa để uốn cong những thanh sắt dầy, chỉ dùng ngón tay đóng hoặc nhổ những cây đinh dài mười lăm phân ngập vào một mảnh ván, nằm cho xe tải cán qua người, húc đầu phá bể một tảng bê tông… luôn được khán giả tán thưởng và báo chí thành phố ca ngợi.
Anh trở thành thứ để đem ra khoe với người ngoại quốc nên việc anh xin trở về nơi ở cũ trong xã An Khánh không khó gì. Vào lúc ngồi với tôi, anh đang được mời qua biểu diễn tại Roma, Vatican, Napoli và Venise ở Ý.
Anh tâm sự:
Mình học võ đâu phải để làm những trò này. Biểu diễn chẳng qua là để khuyến khích lớp em cháu đến võ đường rèn luyện thể chất và tinh thần chứ đâu phải để mãi võ kiếm tiền.
Tôi an ủi anh:
Đâu phải lúc nào người ta cũng được làm theo đúng như ý mình. Anh thấy tôi đâu có muốn vào tù. Dù sao thì anh cũng đã đỡ hơn phần nào so với lúc bị đuổi khỏi xã An Khánh. Anh lắc đầu:
Vẫn thất kinh lắm, thầy ơi!
Và, giải thích tiếp:
Thù lao mỗi lần biểu diễn trên dưới 700 ngàn. So với mức kiếm của mọi người thì nhiều, nhưng mình đâu có được hưởng trọn. Trừ đầu trừ đuôi đủ mọi khoản còn lại cho mình đáng bao nhiêu. Hơn nữa, đâu phải lúc nào cũng có chương trình biểu diễn, nhiều lắm thì một tháng hai lần, thường thì năm bảy tháng mới có một lần. Thất kinh lắm, ngay cả cái chuyện đi Ý của tôi cũng thế! Nhưng thôi, uống đi!
Tôi chỉ biết rõ chi tiết về các cuộc biểu diễn của Hà Châu, kể cả chi tiết về chuyến đi Ý của anh, sau nhiều lần gặp gỡ một số người thuộc võ giới trước 1975.
Hà Châu được mời qua Ý từ năm 1990, nhưng hơn một năm sau mới lo xong thủ tục giấy tờ để lên đường do điều kiện cần có một cán bộ nhà nước đi kèm.
Tại Ý, anh biểu diễn nhiều nơi và theo hợp đồng, được trả một khoản thù lao khá lớn tổng cộng hơn hai chục ngàn đô la.
Nhưng khi về Sài Gòn, anh chỉ đủ tiền sửa lại chiếc xe Vespa cổ lỗ thành chiếc xe tương đối khá hơn. Toàn bộ số tiền anh được hưởng theo hợp đồng rơi vào nhiều khoản mà anh không được quyền nhắc tới, tương tự như nhiều khoản trừ vào thù lao những cuộc biểu diễn ở trong nước của anh. Từ Ý về, anh mang tới tặng tôi chiếc đèn cảm ứng Đài Loan và cho biết anh lại vừa nhận được lời mời đi Úc. Tuy nhiên, anh có vẻ băn khoăn:
– Tôi nghĩ lần này nếu được đi một mình thì đi, không thì thôi. Làm sao tôi đòi hỏi người ta mời thêm người đi được, trong khi người đó đi chẳng để làm gì ngoài việc nắm đầu, xiết họng mình.
Rồi anh lại tâm sự:
– Theo mấy cái trò này ở tuổi tụi mình bây giờ, tôi thấy sợ. Nhiều lần dùng đầu công phá bê tông, tôi phát run. Thầy dư biết đâu phải lúc nào mình cũng làm chủ nổi mình như hồi trẻ. Húc đầu vào một tảng bê-tông dày cả tấc có khi chính cái đầu mình bể chứ đâu phải bê-tông bể. Bây giờ tôi chỉ thở ra được sau khi đã biểu diễn xong.

Đúng là thất kinh.

Nhìn nét mặt anh trong khi trò chuyện và hiểu rõ hậu quả bất ngờ của những trò chơi này, tôi thấy cái tên nghề thất kinh quả đã được đặt đúng chỗ.
Tất nhiên, hiểu biết của tôi không thể bao trùm mọi ngõ ngách cuộc sống, nhưng tôi tự tin mình không nghĩ sai. Không thất kinh sao được khi dồn hết sức lao đầu vào một tảng bê-tông dày cả tấc? Không thất kinh sao được khi nằm dài dưới đất chờ một khối đá nặng cả trăm kí thả từ độ cao năm bảy thước rớt thẳng xuống ngực mình?
Hà Châu lao vào cái nghề như thế để kiếm một khoản thù lao trên dưới vài trăm ngàn bạc cho mỗi lần biểu diễn tức chỉ đủ mua khoảng hơn một tạ gạo hạng bét.
Anh hơn tôi 8 tuổi nên lúc đó sắp bước tới tuổi thất tuần.
Quen biết nhau đã lâu, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ở anh vẻ trầm tư như vậy. Bình thường trên môi anh không khi nào thiếu nụ cười.
Nhưng tôi biết nói gì với anh đây?
Thôi thì cứ mặc cho mọi chuyện xuôi theo dòng của nó.  Hãy đợi đấy! Đúng hẹn lại lên!
Câu nói ẩm ương này cứ được lập lại hoài, dù cả người nói lẫn người nghe chẳng biết đợi cái gì và hẹn với cái gì, khi nào đến hẹn.
Rồi một thời gian khá lâu, tôi không gặp Hà Châu do chuyển chỗ ở về Bà Quẹo.
Đầu năm 1998, tôi mới có dịp qua xã An Khánh và ghé lại thăm anh. Tôi tới đúng nhà mà vẫn lộn nhà, vì Hà Châu không còn ở căn nhà đó nữa. Loay hoay theo chỉ dẫn một hồi, tôi mới tới một căn nhà mà khoảng hiên trước được bít lại thành một gian phòng. Tôi thấy trong gian phòng này một bày chó lúc nhúc mười mấy con, toàn loại chó kiểng đang được ưa chuộng tại Sài Gòn.
Trong lúc chờ mở cửa, tôi thầm nghĩ:
Chắc ông ấy bốc rồi!
Tôi vẫn biết một niềm vui của Hà Châu là nuôi chó mèo. Nhưng tôi ngạc nhiên khi cửa mở.
Đứng trước tôi là một ông già xanh xao. Anh kéo tôi vào gian phòng xặc xụa mùi chó, lùa lũ chó vào phòng trong xập cánh cửa ngăn lại.
Đám chó bị nhốt bất ngờ nháo nhào xô tới xủa ầm ĩ.
Hà Châu dẹp những món đồ thợ rèn lỉnh kỉnh, lấy một chiếc ghế cho tôi ngồi.
Anh ngồi xuống đầu một thanh gỗ được biến thành chiếc ghế dài chồng chất đủ thứ dụng cụ. Việc đầu tiên anh làm là co một bàn chân lên chìa cho tôi ngó.
Thấy tôi không hiểu, anh tụt chiếc giày vải che kín bàn chân ra:
Bàn chân anh bị cụt tới sát ống chân, chỉ còn lại vỏn vẹn phần gót.
Nụ cười dúm dó trên môi anh khiến tôi không lên tiếng được.
Tôi chỉ thấy trên vách ngay sau lưng anh là một mảnh báo bằng tiếng Ý lộng kính nổi bật chữ Ummo lớn màu đỏ xậm mà anh đã cho biết được giải nghĩa là người ngoài hành tinh.
Trong dịp biểu diễn tại Ý mấy năm trước, anh đã được báo chí Ý tặng chữ đó:

 Vo-su-Ha-Chau
Một hồi lâu sau tôi mới có thể chuyện trò bình thường trở lại với anh.
Hà Châu cho biết anh bị tai nạn xe.
Hơn một năm trước, trên đường từ thành phố về nhà, anh dừng lại Ngã Tư Xa Lộ. Đúng lúc anh thả chân xuống đường thì một chiếc xe tải thuộc loại mà người dân Sài Gòn thuở nào quen gọi là xe xi-leng – Sealand – vượt lên nghiến qua bàn chân anh. Chiếc xe trọng tải mười lăm tấn biến trọn bàn chân anh thành một loại thịt ghiền và anh phải nằm bệnh viện gần nửa năm. Kết quả là chiếc Vespa được sửa sang lại nhờ chuyến đi Ý bay mất cộng thêm với một bàn chân. Và anh phải bán căn nhà cũ chuyển sang căn nhà này để có thêm một ít tiền lo thuốc thang hồi sức.
Bây giờ anh quanh quẩn trong nhà với đôi chân cà nhắc. Vợ anh tiếp tục nghề may gia công, nhưng để đủ chi tiêu anh phải kiếm ra một nghề: Nghề nuôi chó!
Anh vốn yêu súc vật nên không nuôi chó cung cấp cho hàng thịt chó mà nuôi chó kiểng. Loại chó này bán được tiền nhưng vốn nuôi khá tốn kém. Anh mới ra nghề và tương lai không sáng sủa mấy. Anh chỉ bầy chó chạy nháo nhào phía trong nhà, nói:
Thầy ngắm coi. Chúng nó ghẻ hết!
Anh cho biết anh tắm cho bày chó rất kỹ. Vậy mà con nọ cứ nối theo con kia trụi lông xùi da.
Anh kết luận:
Chắc tại tôi không có tay nuôi!
Mùi chó ghẻ hôi nồng nặc đầy ắp gian phòng, bao nghẹt hai chúng tôi. Tôi không biết gì về nuôi chó nên hỏi thăm anh về chuyến đi Úc. Anh cho biết đã từ chối lời mời vì không thể đòi phía Úc chi trả thêm cho một người của nhà nước tháp tùng. Anh nói:
– Tôi còn biểu diễn được, nhưng lúc này không có chương trình nào cho mình nữa. Ngoài lũ chó, tôi nhận rèn kiếm thuê cho những người chơi kiếm. Tôi mới rèn xong một thanh kiếm với giá một triệu hai.
Theo anh, giá đó không đem lại cho anh hơn hai trăm ngàn tiền công và lời, dù để rèn một thanh kiếm anh phải mất một, hai tháng cặm cụi bên lò nung. Nhưng công việc này giúp anh có cảm giác vẫn gần gũi thế giới võ thuật.
Tôi đi ngược con hẻm nhỏ đầy hố bùn từ nhà anh ra đường với những ý nghĩ ngổn ngang

Hachau

Mùi chó ghẻ còn bám dính trên quần áo và từng phân da thịt tôi.
Tôi thấy có lẽ cái nghề Hà Châu đang làm mới là nghề thất kinh nhất so với mọi nghề thất kinh đã qua của anh. Tôi thầm mong những con chó của anh sẽ lành bệnh ghẻ, nhưng không hình dung nổi anh làm cách nào để chen chân vào thị trường chó Sài Gòn.
Những lúc đi dọc các đường phố, tôi thường giật mình vì một người bất ngờ nhào xuống dang tay chặn người đang đi xe dừng lại, miệng nói như súng liên thanh nổ.
Đó là những người bán chó luôn nhảy nhót, gào mời bên những chiếc lồng chó đặt trên các vỉa hè. Hà Châu có đủ sức làm công việc này không?
Tôi chỉ dám mong những con chó đó lành bệnh ghẻ để anh có thể thở hít một chút không khí bớt ngột ngạt hơn trong căn nhà bít bùng nồng nặc mùi hôi kia thôi.
Điều này sẽ giảm bớt cho gia đình anh phần nào nỗi thất kinh.
Còn sau đó thì lại phải ca cái câu: Hãy đợi đấy!…
Hà Châu đã ngoại thất tuần.
Anh sinh năm Ất Sửu 1925 và những người cùng năm sinh đó chắc chẳng còn bao nhiêu.
Anh sẽ đợi đến bao giờ để thoát cái nghiệp sống với những nghề thất kinh?
Tôi không muốn nghĩ thêm gì nữa nên đọc thầm một câu thơ của mình viết thuở trong tù:
      Sài Gòn còn mưa bay không em.

UT  Sài Gòn 01/1999

(*) Những chữ in nghiêng trong những dòng này đều là nguyên văn trên các văn thư của Uỷ Ban Nhân Dân Xã An Khánh liên hệ đến vụ biểu diễn võ thuật của Hà Châu.

Tài liệu tham khảo về Võ sư Hà Châu

Tiểu sử  &những huyền thoại về  VS Hà Châu

http://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0_Ch%C3%A2u

http://vothuat.co/vo-su-ha-chau-huyen-thoai-cua-vo-lam.html

Hồng gia quyền
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93ng_Gia_quy%E1%BB%81n

Advertisements